Tin tức

Cơ quan Thuế và Hải quan Bắc Ninh phối hợp "lật tẩy" doanh nghiệp ma

Trong bối cảnh cải cách hành chính và chuyển đổi số mạnh mẽ, sự liên thông dữ liệu giữa cơ quan Thuế và Hải quan không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là yếu tố sống còn để bảo vệ ngân sách nhà nước, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật thuế trước những thủ đoạn gian lận ngày càng tinh vi.
Cơ quan Thuế và Hải quan Bắc Ninh phối hợp
Với địa bàn có nhiều doanh nghiệp FDI nên áp lực hoàn thuế là rất lớn

Từ áp lực hoàn thuế...

Trong lộ trình cải cách hệ thống thuế và hải quan hiện nay, quản lý rủi ro đã được xác lập là phương thức quản lý trọng tâm, giúp tối ưu hóa nguồn lực kiểm tra và giám sát. Đặc biệt, từ ngày 1/7/2025, khi Luật thuế GTGT năm 2024 chính thức có hiệu lực, các yêu cầu về tính minh bạch và độ chính xác trong hồ sơ hoàn thuế xuất khẩu sẽ càng trở nên khắt khe hơn.

Theo Thuế tỉnh Bắc Ninh, đối với hàng hóa xuất khẩu, tờ khai hải quan là chứng từ pháp lý then chốt chứng minh hàng hóa đã thực xuất, là căn cứ để xác định điều kiện khấu trừ và hoàn thuế. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc chỉ kiểm tra tính đầy đủ về mặt hình thức của hồ sơ là chưa đủ để ngăn chặn các hành vi trục lợi.

Cơ quan Thuế cần làm rõ nhiều nội dung mà dữ liệu hải quan có thể hỗ trợ xác minh như: tình trạng thông quan thực tế, tuyến luồng, lịch sử sửa đổi tờ khai, các dấu hiệu bất thường về trị giá, số lượng, mã hàng, phương thức vận chuyển; tính liên tục giữa nguyên liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra, hàng thực xuất. Ngược lại, thông tin quản lý thuế lại giúp cơ quan hải quan nhận diện các doanh nghiệp có biến động bất thường về hóa đơn, doanh thu, kê khai, tạm ngừng hoạt động hoặc rủi ro về tuân thủ.

Chính sự phối hợp giữa hai cơ quan không chỉ để “xác nhận tờ khai” mà còn nhằm hình thành một bức tranh đầy đủ về chuỗi giao dịch phục vụ quyết định hoàn thuế đúng đối tượng, đúng số tiền và đúng thời hạn.

Thực tế tại địa bàn có kim ngạch xuất khẩu lớn và tập trung nhiều doanh nghiệp FDI như Bắc Ninh, áp lực kiểm soát rủi ro hoàn thuế là rất lớn. Các thủ đoạn gian lận hiện nay không còn dừng ở mức đơn lẻ mà đã chuyển sang hình thức tinh vi như mua bán hóa đơn, nâng khống trị giá xuất khẩu, hoặc thiết lập các doanh nghiệp “ma” không có tại địa chỉ đăng ký; thực hiện thanh toán không phù hợp với bản chất giao dịch.

Trước tình hình đó, Thuế tỉnh Bắc Ninh đã triển khai số hóa đối chiếu hồ sơ hoàn thuế để tự động hóa các bước đối chiếu dữ liệu từ giấy đề nghị hoàn (XML), hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS), dữ liệu hóa đơn điện tử và tình trạng người bán; qua đó giảm đối chiếu thủ công, tăng tốc xử lý và “giải phóng” nguồn lực cho phân tích rủi ro.

... đến 3 mũi nhọn phối hợp chống thất thu ngân sách

Từ thực tiễn quản lý có thể thấy, cơ chế phối hợp giữa cơ quan Thuế tỉnh Bắc Ninh và cơ quan Hải quan thường tập trung vào 3 nội dung chủ yếu:

Phân loại hồ sơ rủi ro: Khi tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế GTGT đối với hàng xuất khẩu, cơ quan Thuế phải thực hiện đối chiếu, phân loại hồ sơ theo quy trình quản lý rủi ro, từ đó xác định diện “hoàn trước - kiểm tra sau” hay “kiểm tra trước - hoàn sau”. Trong quá trình đó, dữ liệu từ cơ quan Hải quan giúp đối chiếu tính xác thực của tờ khai xuất khẩu, trạng thái hàng hóa, thời điểm đăng ký - thông quan, các chỉ tiêu khai báo và lịch sử chấp hành pháp luật hải quan của doanh nghiệp. Quy trình hoàn thuế của ngành Thuế cũng nhấn mạnh việc áp dụng thống nhất các bước tiếp nhận, phân loại, giải quyết và kiểm tra sau hoàn.

Xác minh chuyên sâu: Phối hợp xác minh tờ khai hải quan xuất khẩu trong các hồ sơ có dấu hiệu rủi ro. Đây là nội dung then chốt, nhất là khi xuất hiện các biểu hiện như: doanh nghiệp mới thành lập nhưng đề nghị hoàn thuế số tiền lớn; doanh thu xuất khẩu tăng đột biến; hàng hóa xuất khẩu có trị giá cao nhưng năng lực kho bãi, sản xuất, nhân công không tương xứng; hồ sơ có sự chênh lệch giữa hóa đơn, hợp đồng, vận đơn và dữ liệu tờ khai; hoặc doanh nghiệp có biến động bất thường về hóa đơn điện tử.

Trong các trường hợp này, cơ quan Thuế cần đề nghị cơ quan Hải quan hỗ trợ kiểm tra sâu hơn tính hợp pháp, tính nhất quán và lịch sử xử lý của tờ khai xuất khẩu, thay vì chỉ dừng ở việc kiểm tra mã số tờ khai. Ngành Thuế hiện cũng đặt trọng tâm vào việc xếp hạng rủi ro người nộp thuế và xây dựng kế hoạch kiểm tra sau hoàn theo mức độ rủi ro.

Phối hợp kiểm tra sau hoàn: Đối với các trường hợp “hoàn trước – kiểm tra sau”, việc giám sát tiếp tục sau khi hoàn là rất quan trọng. Theo thông tin của ngành Thuế, hiện nay tỷ lệ hồ sơ thuộc diện này là khá lớn, giúp doanh nghiệp được xử lý nhanh hơn, nhưng đồng thời làm tăng yêu cầu phải có cơ chế cảnh báo, theo dõi sau hoàn hiệu quả. Trong bối cảnh đó, sự phối hợp với hải quan giúp cơ quan Thuế kiểm tra lại toàn bộ chuỗi xuất khẩu khi có dấu hiệu bất thường phát sinh sau thời điểm hoàn thuế.

Mặc dù hiệu quả mang lại rõ rệt, song thực tế tiêu chí nhận diện rủi ro chưa được chuẩn hóa liên ngành ở mức đủ sâu cho hồ sơ hoàn thuế xuất khẩu. Cơ quan Thuế và Hải quan đều có hệ thống quản lý rủi ro riêng, nhưng trong thực tiễn, việc dùng chung một bộ chỉ báo phục vụ riêng cho hồ sơ hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu vẫn là khâu cần hoàn thiện.

Thêm vào đó, năng lực phân tích dữ liệu và kỹ năng đọc hồ sơ của một bộ phận cán bộ chưa đồng đều, dễ dẫn đến việc kiểm soát mang tính hình thức, chưa đi sâu vào bản chất kinh tế của giao dịch. Nguyên nhân của các hạn chế này chủ yếu xuất phát từ hạ tầng công nghệ chưa hoàn toàn tương thích và quy chế phối hợp tại cấp thực thi địa phương đôi khi chưa cụ thể hóa hết các tình huống phức tạp của chuỗi cung ứng hiện đại.

Để đáp ứng yêu cầu quản lý trong giai đoạn mới, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp chiến lược sau:

Hoàn thiện và cụ thể hóa quy chế phối hợp nghiệp vụ: Cần chuyển đổi tư duy từ phối hợp sự vụ sang phối hợp theo quy trình chuẩn. Quy chế cần quy định rõ đầu mối, thời hạn phản hồi và mẫu yêu cầu xác minh thống nhất để rút ngắn thời gian tác nghiệp.

Xây dựng bộ tiêu chí rủi ro liên thông Thuế - Hải quan: Đây được xem là giải pháp cốt lõi. Bộ tiêu chí này phải bao quát được bốn nhóm rủi ro: rủi ro về người nộp thuế (thay đổi địa điểm, doanh thu bất thường); rủi ro về hóa đơn (mua từ doanh nghiệp rủi ro, biên lợi nhuận thấp); rủi ro về hải quan (tờ khai sửa đổi nhiều lần, trị giá bất thường); và rủi ro về năng lực thực tế (nhân công, nhà xưởng không tương xứng với kim ngạch).

Đẩy mạnh kết nối dữ liệu điện tử theo đó công chức thuế có thể tra cứu nhanh các trường thông tin cốt lõi của tờ khai xuất khẩu phục vụ giải quyết hoàn thuế và ngược lại, cơ quan hải quan cũng tiếp cận được các chỉ báo rủi ro từ dữ liệu thuế. Về lâu dài hướng tới xây dựng một bảng rủi ro dùng cung cho hoàn thuế xuất khẩu.

Thay đổi phương thức kiểm tra từ “hình thức” sang “bản chất”: Cơ quan chức năng cần phối hợp phân tích tính logic của giao dịch: hàng hóa có phù hợp với đầu vào không, phương thức thanh toán và vận chuyển có đúng thông lệ thương mại quốc tế không. Việc tập trung vào bản chất giao dịch sẽ giúp bóc gỡ các đường dây gian lận có tổ chức.

Đặc biệt cần chú trọng hậu kiểm và đào tạo trong đó ưu tiên nguồn lực cho kiểm tra sau hoàn dựa trên xếp hạng rủi ro. Đồng thời, tổ chức các khóa tập huấn chung giữa hai ngành để bồi dưỡng kỹ năng nhận diện gian lận và phân tích dữ liệu cho đội ngũ công chức.

Có thể nói việc phối hợp giữa cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan trong quản lý hoàn thuế GTGT xuất khẩu là một yêu cầu tất yếu trong quản lý nhà nước hiện đại. Hiệu quả của sự phối hợp này không chỉ dừng lại ở việc ngăn chặn thất thoát ngân sách mà còn góp phần xây dựng một môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch.

Việc chuyển dịch từ phối hợp mang tính sự vụ sang phối hợp dựa trên dữ liệu và tiêu chí rủi ro chung chính là nền tảng bền vững để nâng cao hiệu lực quản lý đối với hoạt động xuất khẩu trong tương lai.

(Nguồn tin: Thuế Hải quan)